7 Ngài bèn kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, ban quyền phép trừ tà ma. 8 Ngài truyền cho sứ đồ đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc bánh, hoặc bao, hoặc tiền bạc trong dây lưng, chỉ đem một cây gậy mà thôi; 9 chỉ mang dép, đừng mặc hai áo. 10 Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hễ nhà nào các ngươi sẽ vào, hãy cứ ở đó, cho đến khi đi. 11 Nếu có chỗ nào, người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chân mình, để làm chứng cho họ. 12 Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn; 13 đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh, và chữa cho được lành.
Các câu Kinh Thánh này mô tả các sứ đồ được sai đi để giảng đạo lần đầu tiên. Đấng làm đầu Hội thánh đã đào tạo những tôi tớ Chúa trước khi để họ lại một mình trong thế gian. Chúa đã dạy họ thử dùng sức riêng để dạy đạo và phát hiện những điểm yếu của họ, trong khi Chúa còn ở với họ. Nói cách khác, Chúa có thể sửa chữa sai lầm của họ. Họ được chuẩn bị cho công tác ở trong tương lai và không phải cảm thấy thiếu kinh nghiệm khi bị để lại một mình. Hội thánh sẽ vững mạnh hơn nếu tất cả tôi tớ Chúa đều có được sự trang bị và không bước vào chức vụ mà chưa trải qua kỳ thử nghiệm, kỳ thử thách và kinh nghiệm nào cả.
Được sai đi “từng đôi”
Chúng ta thấy mấy câu Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Jêsus Christ đã sai các sứ đồ “đi từng đôi” như thế nào. Mác là người truyền đạo duy nhất đề cập đến dữ kiện này. Điều này cần phải chú ý cách đặc biệt.
Không có nghi ngờ gì khi dữ kiện này muốn dạy chúng ta về sự đồng công của Cơ Đốc nhân khi thực hiện công tác của Đấng Christ. Người khôn ngoan có lý do tốt để nói rằng: Hai người hơn một (Truyền đạo 4:9). Hai người sẽ làm được nhiều việc hơn mỗi người làm cách riêng lẻ. Họ sẽ giúp nhau đánh giá và ít mắc sai lầm hơn. Họ sẽ hỗ trợ nhau khi gặp khó khăn và ít bị thất bại hơn. Họ sẽ khích lệ nhau khi rơi vào tình trạng lười biếng và ít bị biếng nhác và thờ ơ hơn. Họ sẽ nâng đỡ nhau lúc hoạn nạn và ít bị ngã lòng hơn. Khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên! (Truyền đạo 4:10).
Nguyên tắc này có thể vẫn chưa được áp dụng ở trong Hội thánh của Đấng Christ ngày hôm nay. Mùa gặt hiển nhiên là đang xảy ra khắp toàn cầu. Con gặt thì ít lắm và những người trung tín lại càng ít hơn. Những lập luận cho vấn đề sai phái từng người một trong hoàn cảnh hiện tại rất mạnh mẽ và có trọng lượng. Nhưng cách làm của Chúa ở trong phân đoạn Kinh Thánh này là một dữ kiện nổi bật. Chúng ta không hề thấy sứ đồ Phao-lô hoặc bất kỳ sứ đồ nào khác làm việc một mình dưới bất kỳ hoàn cảnh nào trong cả sách Công vụ. Thật khó tránh khỏi kết luận rằng nếu nguyên tắc bắt buộc là phải đi từng đôi, thì cánh đồng truyền giáo đã gặt hái kết quả nhiều hơn hiện nay rồi.
Có một điều rất rõ ràng, đó là hết thảy những người hầu việc Đấng Christ có nghĩa vụ phải hết sức làm việc và giúp đỡ nhau. Sắt mài nhọn sắt. Cũng vậy người bổ dưỡng diện mạo bạn hữu mình. Các mục sư và những giáo sĩ, các giáo viên trường Chúa Nhật nên tìm cơ hội để gặp gỡ và cố vấn cho nhau. Mấy lời của sứ đồ Phao-lô chứa đựng một chân lý không thể quên được: Chúng ta hãy quan tâm khích lệ nhau về lòng yêu thương và các việc lành. Chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau; nếu anh em thấy ngày của Chúa càng gần chừng nào thì càng phải làm như vậy chừng nấy (Hê-bơ-rơ 10:24-25).
Những kẻ không tiếp tôi tớ Chúa
Thứ hai, chúng ta hãy quan tâm đến mấy lời tôn nghiêm của Chúa về những kẻ không tiếp nhận và không lắng nghe những tôi tớ Chúa. Chúa phán rằng: “Quả thật, ta nói cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy”.
Đây là một chân lý mà chúng ta thường xuyên nhắc đến trong các sách Phúc Âm. Thật đau lòng khi nhiều người bỏ qua hết những điều này. Hàng ngàn người tưởng rằng họ đi nhà thờ mà không hề phạm tội giết người, trộm cắp, ngoại tình, hoặc công khai vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời, thì họ không gặp nguy hiểm gì cả. Họ quên rằng vấn đề không chỉ là những biểu hiện ở bên ngoài. Họ không thấy một trong những tội đáng chết nhất ở trước mặt Đức Chúa Trời đó là lắng nghe Phúc Âm của Đấng Christ mà không tin – tức là họ được kêu gọi đến sự ăn năn và tin nhận Chúa mà vẫn mặc kệ và không chịu tin. Nói tóm lại, người nào từ chối Phúc Âm thì người đó sẽ xuống địa ngục.
Cũng vậy, chúng ta đừng có thái độ mặc kệ phân đoạn như thế mà không tra xét bản thân rằng: Chúng ta đang làm gì với sứ điệp Phúc Âm? Chúng ta đang sống trong xứ Cơ Đốc. Chúng ta đang có Kinh Thánh ở nhà. Chúng ta nghe thấy sự cứu rỗi của Phúc Âm mỗi năm. Nhưng chúng ta có tiếp nhận sứ điệp ấy vào lòng chưa? Chúng ta có làm theo lời Chúa ở trong đời sống chăng? Nói tóm lại, chúng ta có bám lấy nguồn trông cậy đặt ở trước mặt mình, vác thập tự giá và đi theo Đấng Christ chưa?
Nếu không, chúng ta còn thua xa những kẻ vô tín đang quỳ lạy trước các hình tượng. Chúng ta còn đáng chết hơn dân thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Họ chưa từng nghe Phúc Âm nên cũng chưa từ chối Phúc Âm bao giờ. Nhưng còn chúng ta đang nghe thấy Phúc Âm mà vẫn không tin. Mong rằng chúng ta sẽ tra xét lòng và lắng nghe hầu cho không ai tự chuốc sự hủy diệt cho linh hồn của mình!
Giáo lý mà các sứ đồ đã rao giảng
Cuối cùng, chúng ta có thấy giáo lý mà các sứ đồ đã rao giảng là gì chăng. Chúng ta đọc thấy họ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn.
Tính cần thiết của sự ăn năn lúc đầu có vẻ là một chân lý đơn sơ và căn bản. Nhưng có nhiều sách đã được viết ra để cho thấy toàn bộ về giáo lý này và sự ăn năn vẫn còn phù hợp cho từng độ tuổi, thời kỳ, thứ hạng và tầng lớp của loài người.
Giáo lý này không thể tách rời khỏi góc nhìn đúng đắn về Đức Chúa Trời, bản chất của loài người, tội lỗi, Đấng Christ, sự thánh khiết và thiên đàng. Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Mọi người cần phải nhận thức về tội lỗi của họ, đau buồn về tội lỗi, sẵn sàng từ bỏ chính mình và đói khát sự tha thứ. Nói cách khác, mọi người cần phải được tái sinh và chạy đến cùng Đấng Christ.
Đây là sự ăn năn để đến với sự sống. Đây là điều hết sức cần thiết cho sự cứu rỗi của loài người. Đây là điều hết thảy những ai dạy Kinh Thánh phải nhấn mạnh cho mọi người. Chúng ta phải kêu gọi mọi người đến sự ăn năn nếu muốn sống như các sứ đồ, khi họ ăn năn tội lỗi rồi, chúng ta phải kêu gọi họ ăn năn càng hơn nữa cho đến ngày cuối cùng ở trong cuộc đời của họ.
Còn chúng ta đã ăn năn chưa? Sau hết mọi sự, đây chính là câu hỏi mà chúng ta quan tâm nhiều nhất. Thật là tốt khi biết được những điều các sứ đồ đã dạy. Thật là tốt khi quen thuộc với toàn bộ hệ thống giáo lý Cơ Đốc. Nhưng tốt hơn nữa là biết ăn năn thật và cảm biết điều ấy ở trong lòng của mình. Mong rằng chúng ta không ngừng làm điều đó cho đến khi chúng ta cảm biết rằng mình đã ăn năn! Thiên quốc không có những kẻ vẫn chứng nào tật nấy đâu. Hết thảy những kẻ được vào thiên quốc đều đã cảm biết, đau buồn, từ bỏ và tìm kiếm sự tha thứ tội lỗi. Đây phải là trải nghiệm của chúng ta nếu muốn được cứu rỗi.
———————————
J.C. Ryle (1816–1900) là một nhà văn lỗi lạc, một truyền đạo và mục sư Anh giáo ở nước Anh vào thế kỷ 19. Ông là tác giả của bộ sách Giải Kinh các sách Phúc Âm. Ông đã nghỉ hưu làm mục sư tại Liverpool.
Nguồn: https://tienphong.org

